Vĩ mô

Nhiều điểm mới về chính sách người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Vân Chi
BizLIVE -
Với những quy định mới, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ được bảo vệ tốt hơn.
Nhiều điểm mới về chính sách người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Ảnh minh họa/Nikkei
Vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có một số quy định mới có lợi và bảo vệ tốt hơn cho người lao động.
Theo tài liệu được cung cấp cho đại biểu Quốc hội, Luật đã bổ sung quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc bị quấy rối tình dục trong quá trình thực hiện công việc.
Luật cũng đã bổ sung quyền được tư vấn và hỗ trợ tạo việc làm, khởi nghiệp sau khi về nước và tiếp cận các dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội tự nguyện. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm về nước đúng thời hạn sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề theo quy định của nước tiếp nhận lao động; sau khi nhập cảnh về nước, phải thông báo với cơ quan đăng ký cư trú theo quy định của Luật Cư trú (Điều 6).
Điều 22 của Luật quy định người lao động không phải đóng tiền môi giới; còn Điều 28, Điều 29 bổ sung trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ khi thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ cho doanh nghiệp dịch vụ khác không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Tại điều 28 đã tách riêng và quy định cụ thể hợp đồng đào tạo nghề ở nước ngoài để thống nhất với quy định của Bộ luật Lao động 2019 nhằm bảo vệ người lao động.
Ngoài ra, Điều 51 bổ sung nghĩa vụ của người lao động đăng ký công dân tại cơ quan đại diện Việt Nam tại nước mà người lao động đến làm việc để bảo đảm công tác quản lý, bảo hộ công dân, hỗ trợ khi cần thiết.
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI
Luật mới cũng bổ sung quy định công dân Việt Nam giao kết hợp đồng lao động hợp pháp sau khi xuất cảnh mà đăng ký trực tuyến về việc giao kết hợp đồng lao động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và thực hiện một số nghĩa vụ: đóng góp vào Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước, tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam; tôn trọng phong tục, tập quán của nước tiếp nhận lao động; đoàn kết với người lao động tại nước tiếp nhận lao động thì được hưởng một số quyền.
Đó là, được cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; chính sách, pháp luật và phong tục, tập quán của nước tiếp nhận lao động có liên quan đến người lao động; quyền, nghĩa vụ của các bên khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện quyền, nghĩa vụ và hưởng lợi ích trong hợp đồng lao động, hợp đồng đào tạo nghề.
Được bảo hộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng trong thời gian làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động, pháp luật và thông lệ quốc tế.
Hưởng chính sách hỗ trợ về lao động, việc làm và quyền lợi từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Được tư vấn và hỗ trợ tạo việc làm, khởi nghiệp sau khi về nước và tiếp cận các dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội tự nguyện.
Quy định này, nhằm khuyến khích, tạo điều kiện và bảo đảm các trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động sau khi xuất cảnh (bao gồm: du học sinh, người đi thăm thân, lao động đi làm việc theo kỳ nghỉ...) được hưởng một số quyền lợi của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
LÀM RÕ HƠN NHỮNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
Ở Điều 23, Luật cũng đã bổ sung quy định cụ thể về các nguyên tắc xác định mức trần tiền dịch vụ doanh nghiệp được phép thu của người lao động, đặc biệt trường hợp bên nước ngoài đã trả tiền dịch vụ thì doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu của người lao động phần còn thiếu theo thỏa thuận.
Quy định tại Điều 60 và 61 cụ thể hóa và làm rõ hơn về chính sách đối với người lao động sau khi về nước được hỗ trợ tạo việc làm và khởi nghiệp; hỗ trợ hòa nhập xã hội.
Điều 71 bổ sung cơ chế để hỗ trợ người lao động tiếp cận, đóng góp, thực hiện các thủ tục và nhận hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước trong thời gian làm việc ở nước ngoài thay vì cơ chế mang tính chất bồi hoàn và phải làm thủ tục khi đã về nước như hiện nay.
Luật còn bổ sung quy định các nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tại các Điều 26, 32, 35 và 41 nhằm bảo đảm việc hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi tốt hơn đối với người lao động.
10 ĐIỂM BỔ SUNG ĐỐI VỚI ĐẦU MỐI LÀM DỊCH VỤ
Đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có nhiều quy định được bổ sung.
Một, bổ sung một số điều kiện doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài như: có vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên; bổ sung điều kiện đối với người đại diện theo pháp luật phải là người không có án tích về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội phạm cụ thể khác và phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc dịch vụ việc làm; quy định các doanh nghiệp dịch vụ có cơ sở vật chất của doanh nghiệp hoặc được doanh nghiệp thuê ổn định để đáp ứng yêu cầu giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Điều 10).
Hai, bổ sung một số trường hợp doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi giấy phép như: nội dung kê khai trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép là giả mạo; không đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian 24 tháng liên tục, trừ các trường hợp thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, bất ổn chính trị, suy thoái kinh tế hoặc bất khả kháng khác mà bên nước ngoài tiếp nhận lao động không thể nhận người lao động; thu tiền môi giới của người lao động... (Điều 16).
Ba, bổ sung điều kiện với người đứng đầu của chi nhánh khi được giao nhiệm vụ cũng phải đáp ứng điều kiện tương tự như người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; không quy định giới hạn số lượng chi nhánh mà doanh nghiệp dịch vụ được giao nhiệm vụ thực hiện một số nhiệm vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quy định rõ những nhiệm vụ chi nhánh không được làm và doanh nghiệp dịch vụ phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh... (Điều 17).
Bốn, bổ sung quy định về chuẩn bị nguồn lao động nhằm tạo điều kiện và cho phép doanh nghiệp được chủ động chuẩn bị nguồn lao động trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động nhưng gắn với các điều kiện cụ thể để hạn chế tình trạng đào tạo, bổ túc kỹ năng nghề… tràn lan, không sát với khả năng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, tránh lãng phí xã hội (Điều 18).
Năm, bổ sung làm rõ một số nội dung về Hợp đồng cung ứng lao động như về điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại; chế độ bảo hiểm y tế và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm của các bên trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh đối với người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; tiền dịch vụ được bên nước ngoài tiếp nhận lao động chi trả (nếu có);… (Điều 19).
Sáu, bổ sung trường hợp cần phải thẩm định ở nước ngoài đối với hợp đồng cung ứng lao động thì phải thông báo cho doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được kết quả thẩm định (Điều 20).
Bảy, doanh nghiệp dịch vụ phải chi trả thù lao theo hợp đồng môi giới đối với bên nước ngoài tiếp nhận lao động (Điều 22).
Tám, bổ sung quy định cụ thể hơn về tiền dịch vụ và các nguyên tắc cụ thể thu tiền dịch vụ, nguyên tắc xác định mức trần tiền dịch vụ doanh nghiệp được phép thu của người lao động (Điều 23).
Chín, bổ sung một số nghĩa vụ cụ thể để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ đối với người lao động như:
Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại cho người lao động do chính doanh nghiệp và chi nhánh của doanh nghiệp gây ra;
Doanh nghiệp dịch vụ phải đăng tải trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp dịch vụ thông tin về người đại diện theo pháp luật; danh sách nhân viên nghiệp vụ; địa chỉ trụ sở chính, địa điểm kinh doanh, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; quyết định giao nhiệm vụ cho chi nhánh và cập nhật khi có sự thay đổi về những nội dung này; văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận về việc chuẩn bị nguồn lao động; thông tin đầy đủ, chính xác về số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện làm việc, quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động theo nội dung hợp đồng cung ứng lao động; danh sách người lao động tham gia chuẩn bị nguồn và được tuyển chọn;
Cam kết bằng văn bản việc ưu tiên tuyển chọn người lao động đã tham gia hoạt động chuẩn bị nguồn của doanh nghiệp (nếu có); trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết ưu tiên tuyển chọn người lao động sau khi đã tham gia chuẩn bị nguồn do doanh nghiệp tổ chức thì phải bồi thường theo thỏa thuận...;
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày người lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài và hằng tháng phải cập nhật thông tin về người lao động do doanh nghiệp đưa đi trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho đến khi thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Tư vấn, hỗ trợ cho người lao động các thủ tục liên quan đến chấm dứt hợp đồng lao động, các quyền lợi, chế độ và thủ tục về nước... (Điều 26).
Mười, bổ sung quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình dự án; tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nghĩa vụ phải: (1) thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc để giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động làm việc ở nước ngoài; (2) giải quyết vấn đề phát sinh trong trường hợp người lao động chết, bị tai nạn hoặc bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản hoặc trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, bất ổn chính trị, suy thoái kinh tế, tình trạng khẩn cấp hoặc vì lý do bất khả kháng khác (Điều 32, Điều 35, Điều 41).
Với 8 chương 74 điều, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022.

VÂN CHI