Ngân hàng

Hai thái cực nợ xấu ở hai mô hình ngân hàng Việt Nam

Trong khi nợ xấu ở Ngân hàng Phát triển lên tới trên 17%, thì tại Ngân hàng Chính sách xã hội chỉ dưới 1%.
Hai thái cực nợ xấu ở hai mô hình ngân hàng Việt Nam Ngân hàng Chính sách xã hội tại Bắc Ninh. Ảnh: Trần Việt
Trần Thúy11:37 17/10/2019
Ngày 16/10/2019, Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội họp phiên thường kỳ Quý III/2019.
Thông tin từ phiên họp trên cho biết, đến ngày 30/9/2019, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã đạt 210.201 tỷ đồng, tăng 15.780 tỷ đồng so với năm 2018. Tổng dư nợ đến 30/9/2019 đạt 200.813 tỷ đồng, tăng 13.021 tỷ đồng, tương đương tăng 6,9% so với cuối năm 2018, với hơn 6,5 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ. 
Trong đó, dư nợ các chương trình tín dụng theo kế hoạch tăng trưởng được Thủ tướng Chính phủ giao đạt 175.308 tỷ đồng, tăng 10.166 tỷ đồng (tăng 6,2%) so với cuối năm 2018, hoàn thành 76,9% kế hoạch.
Dư nợ tín dụng chính sách tập trung chủ yếu ở các chương trình phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh tạo sinh kế và việc làm, bao gồm: hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, cho vay giải quyết việc làm (chiếm 73,6%).
Đáng chú ý, về chất lượng tín dụng, tính đến cuối tháng 9/2019, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh của ngân hàng chuyên cho vay hộ nghèo và hộ cận nghèo này chỉ chiếm 0,74% tổng dư nợ. Nhiều năm qua tỷ lệ nợ xấu tại đây cũng chỉ ở mức dưới 1%.
Trong khi đó, ở một mô hình ngân hàng khác, tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), tình hình nợ xấu lại ở một thái cực trái ngược.
Báo cáo của Tổng Kiểm toán Nhà nước gửi đại biểu Quốc hội được đề cập mới đây cho biết, kết luận kiểm toán tại VDB chỉ ra hoạt động tín dụng thời gian qua của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, kết quả chênh lệch thu chi năm 2018 âm hơn 866 tỷ đồng.
Đáng chú ý, lỗ lũy kế của ngân hàng này đến 31/12/2018 là trên 4.800 tỷ đồng; nợ xấu tại 31/12/2018 là trên 46.100 tỷ đồng, chiếm tới 17,2% tổng dư nợ.
Trong khi đó việc trích lập dự phòng rủi ro chỉ là 5.790 tỷ đồng, bằng 12,5% tổng nợ xấu... Kiểm toán Nhà nước đánh giá điều này khiến "tiềm ẩn rủi ro lớn trong tổ chức hoạt động".
Đặc biệt, hiện nay số liệu bù chênh lệch lãi suất mà ngân sách nhà nước phải cấp bù cho VDB tại thời điểm 31/12/2018 rất lớn, lên tới 13.496 tỷ đồng.
Tại Việt Nam, hai ngân hàng trên là hai mô hình đều thuộc sở hữu nhà nước và đều có định hướng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Trong đó, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Về đối tượng phục vụ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam tập trung vào các hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ.
Còn Ngân hàng Chính sách xã hội có nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Ngân hàng Chính sách xã hội được nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.